LỜI CÃI CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC PHIÊN TÒA ĐỀ HÌNH NGÀY 23-11-1925

Phan bội châu

Toàn văn lời cãi của Phan Bội Châu trước phiên tòa đề hình của Thực Dân Pháp ngày 23/11/1925 phản ảnh một khí chất của người chí sỹ vì dân vì nước. Mời quý vị đọc toàn bộ lời được trích dẫn trong Phan Bội Châu toàn tập, Tập 4.

LỜI CÃI CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC PHIÊN TÒA ĐỀ HÌNH

“Nước Nam vốn là một nước, nhưng xưa nay chịu dưới quyền chuyên chế, dân tình cực khổ đã lâu. Vua quan đối với dân lại cách biệt và hà hiếp ức chế, dân tình không có cách gì thấu đạt được. Nhờ có chính phủ Bảo hộ là một nước văn minh nói là sang khai hóa cho, tôi đã chắc dân Giao Chỉ mấy ngàn năm, đã đến thời kỳ mở mày mở mặt. Nào ngờ từ khi chính phủ sang cai trị đến bấy giờ đã hai chục năm mà chính sách không hề có gì thay đổi. Đã đến năm 1904 rồi mà Trung Bắc Kỳ vẫn chỉ có 2 trường: trường Hà Nội và trường Huế, và cả hai đều chỉ dạy làm thông ngôn ! Người du học không cho, lối thi cử vẫn để, luật lệ không chịu thi hành luật chính quốc, tham quan lại những hối lộ công hành. Tôi là người nước Nam, tôi biết yêu nước Nam, muốn thức tỉnh dân tộc Việt Nam, thấy thế nên sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu trong tay tôi có mấy vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh, lương túc, súng đủ đạn nhiều, tàu chiến có, tàu bay có, thì có lẽ tôi hạ chiến thư, đường đường chính chính đánh lại với chính phủ thật đấy !

“Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng tiền, tay không có một tấc sắt, không lấy võ lực mà phản đối lại được, vậy tôi chỉ dùng văn hóa, nghĩa là trước thư, lập ngôn để cổ động nhân dân, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị. Chẳng dè chính phủ ngờ vực tôi, bắt tôi, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đạt cái mục đích của tôi”.

TOÀN TẬP LỜI CÃI TRƯỚC PHIÊN TÒA ĐỀ HÌNH NGÀY 23-11-1925

—————-

(*) Phiên tòa này do Bride làm chánh án; Dupuy, Bellié, Boyer làm Bồi thẩm; Arnoux Patrix làm Lục sự. Bona và Larre làm Trạng sư. Saintonge và Bùi Bằng Đoàn làm thông ngôn. Bản cáo trạng buộc tội Cụ Phan Bội Châu 8 điều, sau đây là lời tự biện hộ của Cụ.

“Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền, góp sức, phái người đi du học, và làm sách làm vở gửi về cho nhân dân. Việc làm của tôi là dùng cái lưỡi và ngọn bút, mục đích của tôi là cải lương chính trị, sở chí của tôi là thương dân yêu nước, cử động của tôi là chính đại quang minh.

“Nếu tôi là người có tội, thì tôi chỉ có bốn tội sau này:

  1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không ai phản đối mà một mình tôi phản đối, lại muốn cho nước Nam độc lập.
  2. Nước Nam xưa nay là chính phủ chuyên chế, mà tôi muốn cho nước Nam thành ra một dân quốc.
  3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc, mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.
  4. Tôi trước thư, lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái thiên chức khai hóa của mình”.

Ông Chánh án lại vẫn hỏi:

  • Cụ phản đối chính trị của chính phủ Bảo hộ, hay là chính trị của nước Nam.

Cụ đáp:

  • Tôi muốn phản đối chính trị của chính phủ Bảo hộ, còn như nước Nam có nước đâu mà có chính trị cho tôi phản đối.
  • “Ấy, tội tôi chỉ có thế, chính phủ chiếu luật gia hình, bắt tội tôi thế nào, tôi cũng xin chịu, còn những điều trong cáo trạng buộc tội thì tôi không nhận điều nào cả.
  • “Tôi phản đối là phản đối chính trị mà thôi, còn về chủng tộc về tôn giáo, tôi không hề phản đối. Ai ai cũng là con Thượng Đế, người Nam, người Pháp vẫn là anh em một nhà. Tôi muốn rằng người Pháp, người Nam dìu dắt nhau mà cùng mưu lợi chung, miễn là chính thể cải lương cho được công bằng, cho có nhân đạo.
  • “Tôi là người như thế, đâu có làm những việc âm mưu ám muội như tòa đã tố cáo. Tôi ở Trung Kỳ ra đây năm 1905, rồi bỏ đi ngoại quốc ngay, tôi chưa từng -về nước lần nào.
  • “Thấy đồng bào ngủ say, tôi rung chuông cho đồng bào thức dậy, nhưng vì dậy vội quá, thần hồn nát thần tính, làm những việc bạo động, thì cái đó không phải lỗi ở tôi.
  • “Khi ở nhà, tôi dạy học, thờ cha kính mẹ, không làm điều gì gian lận, không có khi nào tôi lại xui giục ai giết người; khi ra ngoại quốc làm sách vở, không hề làm việc gì ám muội cả. Những việc bạo động trong nước, chính tôi, tôi cũng lấy làm đau lòng lắm. Làm những việc ấy hại cho người nước Nam, tôi là người nước Nam, tôi yêu nước Nam, đâu có làm những việc như thế. Tôi phản đối là phản đối chính thể mà thôi, sao lại gọi là phá hoại chính phủ Bảo hộ được !
  • “Dân nước Nam mất nước, như đàn con mất mẹ, chính phủ Bảo hộ tự nhận làm người mẹ nuôi ôm lấy mà trông nom dạy bảo cho. Tôi cũng là người trong nhà, trông thấy anh em mồ côi mồ cút cũng thương, lẽ đâu muốn cho anh em mất người mẹ nuôi ấy ! Tôi cổ động là cổ động cho đồng bào biết hợp quần, biết ái quốc, biết yêu cầu cải lương chính trị, chứ có cổ động cho nhân dân làm loạn đâu ? … Vả, nếu là kẻ có ý muốn làm loạn, thì tôi cứ ở ngay trong nước theo với Đề Thám cũng có thể làm được, có cần gì phải bỏ vợ, bỏ con, bỏ nhà, bỏ nước mà trốn đi ngoại quốc làm gì? Năm 1913, tôi nghe tin buộc tôi vào tội tử hình thì tôi vẫn đi lại ở Thượng Hải, có sợ gì đâu, vì tôi tự biết là tôi vô tội”.

Cụ Phan nói đến đây. Trạng sư Bona hỏi cụ rằng:

  • Trong lời khai, cụ có nói rằng cụ cũng có cái tư tưởng thân Pháp, cái tư tưởng ấy, cụ có viết trong hai cuốn sách kia mà?

Cụ Phan đáp:

  • Có, tôi có viết hai cuốn sách, một cuốn là: PHÁP VIỆT ĐỀ HUỀ LUẬN, và một cuốn là “DỰ CỬU NIÊN LAI SỞ TRÌ CHI CHỦ NGHĨA”. Tôi có gửi hai cuốn sách ấy cho quan Toàn quyền Sarraut. Coi đó thì tôi không phản đối nước Pháp, tôi chỉ phản đối cách cai trị thuộc địa của nước Pháp mà thôi. Từ năm 1916, 1918 trở về sau, chắc chính phủ Pháp cũng biết những điều lầm lỗi ấy, chính trị đã thấy cải lương đôi chút, công thương phát đạt, trường học mở nhiều, tôi cũng có bụng mừng cho tiền đồ Nam Việt. Tôi mong rằng được cùng chính phủ hiệp lực, đồng tâm, người Nam, người Pháp cùng dắt tay nhau lên con đường văn minh tiến bộ. Nên vừa rồi tôi có viết một quyển sách nữa, nhan đề là “SÁNG TẠO THIẾU NIÊN VIỆT NAM QUỐC CHI PHƯƠNG PHÁP”, trong đó có nói những điều tiến bộ của chính phủ Pháp đã gây cho nước Nam”.

Cụ Phan nói đến đây, ông Chánh án dứt lời và nói:

  • Hội đồng Đề hình chỉ xét lại cáo án năm 1913 xử vắng mặt cụ vào tử hình mà thôi, còn việc từ năm 1913 trở về sau, thì không cần nói đến, vậy những tội kia cụ có nhận hay không thì nói.

Cụ đáp:

  • Tôi chỉ nhận có 4 tội như tôi đã nói, còn ngoài ra tôi không có tội gì khác.

Sau đó, đáng lẽ đến lượt Trạng sư cãi, nhưng vì đã muộn nên các Trạng sư xin Tòa tạm hoãn. Tòa chuẩn y và tuyên bố hoãn đến buổi chiều.

LỜI CÃI CỦA CỤ PHAN TRƯỚC PHIÊN TÒA BUỔI CHIỀU

Đại ý cụ nói:

  • “Nay đã cho phép chống cãi thì xin cho chống cãi hết lời.
  • “Trước hết, đổ cho tôi theo gương ông Phan Đình Phùng, điều đó thật là không phải. Ông Phan Đình Phùng thì lúc bé tôi hâm mộ thật. Vì bấy giờ tôi đọc sách thánh hiền Á đông mới học được có 2 chữ “Trung Quân”. Nhưng về sau, tôi đọc ra các sách ngoài, mới biết hai chữ “Ái Quốc” còn nặng hơn hai chữ “Trung Quân” nên tôi vẫn trọng ông Phan Đình Phùng, song không lấy việc ông làm là phải. Sau đó, tôi đọc đến sách Thái Tây, các sách Thiên Chúa Giáo, các sách Ấn Độ thấy nói: “người trong bốn biển cũng như anh em trong một nhà”. Người trong bốn biển cũng như anh em trong một nhà, huống chi là người trong một nước? Người trong nước tôi, hơn tuổi tôi, tôi đều coi như anh, kém tuổi tôi, tôi đều coi là em cả. Trông thấy anh em khổ sở, lẽ nào tôi lại ngoảnh mặt làm thinh cho đành. Tôi ra thi Hương là cũng có ý giúp việc cho chính phủ, nhưng thấy cái cách chính trị của chính phủ không tốt, nên tôi phản đối.
  • “Tôi bỏ nước ra đi là cốt vận động phản đối chính trị. Khi thi Hội, tôi đã được 7 phần số. Tuy rằng thi hỏng, nhưng cũng có thể viện lẽ ra làm quan được. Cái cầu vinh thân phì gia, phong thê ấm tử ngay trước mắt, ấy thế mà tôi không thiết, bỏ đi ngoại quốc, xa vợ, xa con, cách phần mộ, lênh đênh hơn hai mươi năm trời ở quê người đất khách, tin tức không tường, mất còn chẳng rõ như thế mà bảo tôi nhiệt tâm phú quý hay sao?
  • “Và có thi hỏng nữa, thì cuốn “LƯU CẦU HUYẾT LỆ TÂN THƯ” là tôi làm từ trước, có đưa cho ông Phan Chu Trinh và cụ thượng Cao Xuân Dục, xem như vậy có phải là vì bất đắc chí với khoa cử rồi mượn tiếng ái quốc để cầu lợi lộc gì đâu? Tôi phản đối chính trị cố nhiên là phải cần có người, cần có của, và phải lợi dụng ông Cường Để, cho người trong nước, đã in sâu cái óc quân chủ, vui lòng giúp rập. Điều đó tôi không chối.
  • Đến như hội “Duy Tân” thì là một học hội. Tôi có chiêu tập những hàng thiếu niên anh tuấn trong nước ra ngoài cầu học, Ông Cường Để làm hiệu trưởng mà tôi thì làm giám đốc. Một hội như thế, có việc gì là đáng tội đâu ! Chẳng may chính phủ Nhật Bản cấm cách, chúng tôi phải trở về Tầu. Cái hội “Việt Nam Quang Phục” là người Tầu thương chúng tôi mà dung cho, trong đó có cả người Tầu, song nói rằng có ông Nguyễn Thượng Hiền thì thật là oan cho ông ấy quá. Điều đó tôi không chịu. Bấy giờ ông Nguyễn Thượng Hiền ở Sơn Tây chớ có ở Quảng Đông đâu ! Vả chăng mục đích hội cũng chỉ là cầu học. Tôi định cổ động cho trong nước có nhiều người du học, khi có nhiều tay trí thức, bấy giờ mới yêu cầu chính phủ Bảo hộ trả lại quyền tự trị, lập thành một dân quốc. Trước sau tôi vẫn chủ trương dùng văn hóa mà phản đối chính trị, văn hóa không xong thì tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày bất lương, tôi còn một ngày phản đối. Chính trị mà có một ngày cải lương thì lập tức tôi đình chỉ sự phản đối ấy ngay. Nhưng đó chỉ là một cái chương trình định miệng, nếu có tiền thì làm như thế, chớ có sổ sách giấy má gì đâu. Trí chưa đạt, công chưa thành, tôi còn dám nghĩ đâu đến sự làm ông gì nữa. Nước Nam mà thành dân quốc, thời thiếu gì người tài trí hơn tôi đáng làm Tổng thống. Nước Nam mà không thành được dân quốc, tôi nhận cái danh Tổng thống thời quý hóa gì, ví như một nhà, ông Cường Để là người chủ mà tôi chỉ là người giúp việc; việc chưa nên cơ ngũ gì, tôi viết báo, làm sách lấy tiền nuôi thân và nuôi các đồng chí; trong các sách đó, cũng có cuốn tôi viết, cũng có cuốn người khác mượn tên tôi mà viết. Trong các sách tự tay tôi viết, có chỗ ví người Pháp như thần như thánh, ví dân Nam như gà như lợn. Tôi khuyên người Nam nên có học cho bằng người Pháp để yêu cầu quyền độc lập, chớ tôi có xui ai làm việc bạo động bao giờ ! Những kẻ bạo động chắc là không đọc sách tôi, không đọc sách tôi nên mới lấy gà lợn mà chống lại thần thánh. Vả chăng những việc ấy là việc vô nhân đạo, nước Nam mà độc lập, tôi mà có quyền thế, quyết nhiên cũng không dung túng những kẻ làm việc bạo động như vậy, vì làm thế là hại cho người Nam. Nay bảo rằng tôi chủ sự những việc ấy, thời lấy gì làm bằng cớ rõ ràng. Giá có chụp được bức ảnh tôi cầm bom đưa cho người khác, hay là bắt được bức thư có chữ ký, có ấn tín của tôi, truyền cho ai hành sát, truyền cho ai chế tạo hung khí, thì bảo có tang chứng gì đã đành, đằng này chỉ bằng vào những lời cung của những người kia thì lấy gì làm xác đáng. Cái tên Phạm Văn Tráng thật về đây tôi mới biết. Trong hội “Việt Nam Quang Phục” không có tên người ấy. Một người không quen biết bao giờ khi nào lại có thể lấy cái quan tước, cái phú quý mười phần chưa chắc phần nào mà dụ người ta làm những việc như việc ném bom, là sự mười phần chắc chết cả mười được. Họ đổ cho tôi là chủ sự, chẳng qua là họ nghe tiếng tôi ra ngoài viết báo làm sách, ai ai cũng biết, và nếu những người ấy có quả thật là người trong đảng tôi nữa, thì đầu đảng tôi là ông Cường Để, chủ sự tất tự ông Cường Để chớ sao lại tự tôi ? Còn những việc mà tôi nói tự ông Cường Để, tự ông Nguyễn Thượng Hiền là sự thật.
  • Tôi chối làm gì? Ngay từ lúc tôi bắt đầu làm việc phản đối chính trị, tôi đã cầm chắc hai phần: một là nước Nam được độc lập, hai là tôi phải mất đầu. Về đây chắc chết rồi, đổ cho ai nữa mà mong cho nhẹ tội ? Hội đảng chúng tôi dựng lên là cần có tiền, cần có người, song nhờ có ông Cường Để có thế lực với dân trong Nam, ông Thuật, ông Nguyễn Thượng Hiền có thế lực với dân ngoài Bắc, có các ông ấy thì mới có đủ thu được nhân vọng Nam, Bắc; còn tôi, tôi chỉ có thế lực ở tỉnh Nghệ, cùng mấy tỉnh Trung Kỳ mà thôi. Sự đó là sự thật, không phải tôi chối. Chúng tôi dắt nhau ra ngoài, trước hết là cần phải tìm cách để nuôi được nhau đã, vì thế nên có nhờ người Tầu giúp tiền của thật. Làm giấy bạc giả cũng là vì cớ ấy, song có tiêu đi được đâu. Sở sỹ tôi sang Xiêm là vì bấy giờ có mấy người ở Trung Kỳ sang, chịu đói chịu khát với nhau, tôi phải sang để xin ít ruộng đất mà cầy cấy làm ăn, sự thật chỉ có thế.
  • Những tội lỗi của những kẻ bạo động kia mà cho là tội lỗi của tôi cả, điều đó chỉ phải một nửa, nghĩa là chỉ phải về một phương diện mà thôi. Cứ lấy luân lý mà nói, thì tội của em tức là tội của anh, huống chi là anh không biết dạy bảo, để em phạm tội. Tội của con tức là tội của bố huống chi là bố không biết dạy bảo để con phạm tội ! Thế nhưng về phương diện luân lý thôi, chớ về phương diện pháp luật thì khi nào tội người em lại có thể là tội người anh, tội người con có thể là tội người bố được. Nay quan tòa nếu tin ở lời chúng khai mà buộc tội tôi, thì theo như cái án năm 1913, giết quách tôi đi cho rảnh. Song nếu bằng ở sự thật, thì việc tôi làm chẳng có tội gì. Tôi phản đối chính trị, nhưng chỉ dùng cách hòa bình, chứ không dùng cách kịch liệt. Thân tôi thì chẳng qua như con muỗi, mà nhà nước thì binh lực như trời như biển, tội chống sao cho lại mà tính chuyện bạo động ? Đến nay hơn 20 năm trời, chiếc thân cơ khổ, một việc không nên, như thế tôi sao có là kẻ anh hùng cứu quốc được ! Nước Nam mà ra nước Nam, thời có hàng ngàn người hơn tôi đứng ra lo toan việc nước, chớ như tôi, sao có đáng là bậc anh hùng. Tôi tuy là kẻ không anh hùng, song tôi thật không phải là kẻ tiểu nhân, chỉ tham đồ phú quý”.

Ông Chánh án hỏi Hội đồng chín câu. Tám câu trên, là tám tội danh đã tuyên bố trong cáo trạng, còn câu dưới là xem có điều gì đáng nên khoan giảm không. Hai trạng sư đều đồng thanh xin Tòa tha tội cho cụ Phan.

Đọc 8 câu ấy xong, ông Chánh án hỏi các trạng sư và cụ Phan có điều gì muốn phân trần không. Hai trạng sư đều đồng thanh xin Tòa tha tội cho cụ Phan.

Cụ Phan cũng đứng lên nói thêm rằng:

  • Tôi cám ơn Hội đồng đã đem tôi ra trước mặt công chúng xét xử, lại cử 2 trạng sư biện hộ. Giá với chính thể Nam triều thì nguyên một tội phản đối cũng đủ đáng chết còn làm gì có trạng sư cãi hộ, và cũng còn đầu đâu để ra trước Hội đồng. Những điều tôi muốn nói, các trạng sư đã nói hộ cho cả rồi, song tôi chỉ xin nói thêm một câu nữa là: “Nếu Chính phủ Pháp lấy tầu bay, tiềm thủy đình, đại bác, chiến thuyền, nghĩa là lấy võ lực mà cai trị xứ này, thì tôi đành chết chẳng dám kêu nài, nhưng nếu nhà nước Bảo hộ lấy văn minh sang khai hóa cho các dân tộc ở Đông Dương, thời thiết tưởng như tôi thật đáng được tha tội.

Dứt lời, ông Chánh án lại ra lệnh nghỉ để Hội đồng bàn cãi. Và kết quả đa số dự thẩm đều đáp là “có”, nghĩa là có phạm tám tội đã kể nhưng xét án tình cũng nên có chỗ khoan dung. Vậy chiếu luật, trong tám tội đáng phạt khổ sai chung thân, còn một tội đáng tử hình, nhưng Tòa lượng thứ kết án phạt: KHỔ SAI CHUNG THÂN.

Cụ Phan đứng lên nói:

  • “Tám tội đó, tôi không nhận, không phải tôi sợ tử hình, hay khổ sai chung thân, nhưng vì những tội ấy là những hành vi hại nước Nam, tôi vốn là người yêu nước Nam, tôi không bao giờ làm những việc hại nước Nam, vậy tôi nhất định không nhận những tội ấy để cho mọi người tiếu mạ, tôi xin chống án”.

Hội đồng chấp thuận và giải tán vào quãng gần 9 giờ. Thế là VỤ ÁN PHAN BỘI CHÂU đưa lên Hội đồng Bảo hộ.

(Trích Bùi Đình – Vụ án Phan Bội Châu Nhà xuất bản Tiếng Việt – Hà Nội, 1950)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *